Bạn đang ở :   Tin tức > Thông Báo
    Đăng Nhập
Thị trường nước ngoài
TMĐT
Đăng ký TMĐT
Da cap
San TMĐT
Baner dan hoi
eOffice
Tuyên truyền
Chung tay cải cách hành chính
Baner DGN
Góp ý web
Thủ tục hành chính
Email Kontum
VBPL_CP
Bộ Y tế
LƯỢT TRUY CẬP
73.407
VĂN PHÒNG

Kỷ niệm 25 năm Ngày thành lập lại tỉnh Kon Tum (12/8/1991- 12/8/2016)

 Sở Công Thương đăng tải nguyên văn “Đề cương tuyên truyền kỷ niệm 25 năm Ngày thành lập lại tỉnh Kon Tum” do Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Kon Tum biên soạn

 THÀNH TỰU SAU 25 NĂM THÀNH LẬP LẠI TỈNH KON TUM

VÀ NHỮNG ĐỊNH HƯỚNG LỚN CỦA TỈNH TRONG THỜI GIAN TỚI

(Đề cương tuyên truyền kỷ niệm 25 năm Ngày thành lập lại tỉnh Kon Tum 12/8/1991-12/8/2016)

_________

 

          I. Những thành tựu cơ bản sau 25 năm thành lập lại tỉnh

          Ngày 12-8-1991, Quốc hội khóa VIII, kỳ họp thứ 9 đã ra Nghị quyết giải thể tỉnh Gia Lai-Kon Tum và thành lập lại 2 tỉnh Gia Lai và Kon Tum. Việc thành lập lại tỉnh Kon Tum xuất phát từ yêu cầu phát triển chung của đất nước trong thời kỳ đổi mới, xu thế và điều kiện phát triển của khu vực Tây Nguyên và tâm tư, nguyện vọng của Nhân dân các dân tộc tỉnh Kon Tum. Trong 25 năm qua, với đặc điểm của một tỉnh miền núi, vùng cao, biên giới, điều kiện kinh tế-xã hội với điểm xuất phát thấp, đời sống nhân dân còn rất nhiều khó khăn, thiếu thốn; thiên tai, dịch bệnh liên tiếp xảy ra, đặc biệt cơn bão số 9 (năm 2009), hạn hán trong mùa khô năm 2016 đã làm ảnh hưởng và thiệt hại lớn đến sản xuất và đời sống của Nhân dân. Song, được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát và hỗ trợ kịp thời của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Chính phủ và các bộ, ngành Trung ương; với tinh thần tự lực, tự cường, cần cù sáng tạo, Đảng bộ, Chính quyền và Nhân dân các dân tộc tỉnh Kon Tum đoàn kết một lòng, đồng tâm hiệp lực, phát huy truyền thống cách mạng và những tiềm năng, thế mạnh sẵn có  để xây dựng, phát triển tỉnh Kon Tum đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa quan trọng, tạo được những dấu ấn khá rõ nét về phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội; củng cố quốc phòng-an ninh; kiện toàn hệ thống chính trị, góp phần vào thành tựu chung của cả nước trong công cuộc đổi mới vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

          1. Về kinh tế

          Kinh tế duy trì mức tăng trưởng tương đối cao (giai đoạn 1992-1995 đạt 9,15%/năm; 1996-2000 đạt 9,85%/năm; 2001-2005 đạt 11%/năm; 2005-2010 đạt 14,71%/năm, 2010-2015 đạt 13,94%/năm). Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, tăng dần tỷ trọng công nghiệp-xây dựng và thương mại-dịch vụ (tỷ trọng công nghiệp-xây dựng từ 7,4% năm 1992 tăng lên 27,17% năm 2015; tỷ trọng thương mại-dịch vụ từ 25,3% năm 1992 tăng lên 38,11% năm 2015). Thu nhập bình quân đầu người/năm tăng liên tục qua các năm: Năm 1992 là 88,6 USD; năm 2000 đạt 182 USD, năm 2005 đạt 301 USD; năm 2010 đạt 718 USD và đến năm 2015 đạt 1.555 USD.

          - Nông, lâm nghiệp và thủy sản có những chuyển biến tích cực, phát triển vững chắc theo hướng sản xuất hàng hoá(giai đoạn 1992-1995: tăng trưởng 3,28%/năm; 1996-2000: 10,7%/năm; 2001-2005: 9,15%/năm; 2005-2010 là 7,52%/năm). Riêng trong giai đoạn 2010-2015, nông nghiệp tăng trưởng bình quân 7,0%/năm. Diện tích cây cao su, cà phê, sâm Ngọc Linh tiếp tục được mở rộng, tạo ra các vùng chuyên canh nguyên liệu cho công nghiệp chế biến[1]; dự án phát triển rau, hoa xứ lạnh bước đầu được đầu tư có kết quả. Nuôi trồng thủy sản tăng trưởng khá[2], đã nuôi thử nghiệm thành công cá Tầm, bước đầu cho sản phẩm tiêu thụ trên thị trường. Việc đưa các giống cây trồng, vật nuôi mới vào sản xuất và ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp được chú trọng, góp phần tăng năng suất, chất lượng sản phẩm. Công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng theo hướng bền vững đạt kết quả tốt. Tiềm năng đất đai, thủy điện... được khai thác và sử dụng hợp lý, hiệu quả hơn, tạo nguồn lực cho đầu tư phát triển. Xây dựng nông thôn mới đã mang lại kết quả tích cực, góp phần thay đổi diện mạo khu dân cư và đời sống người dân ở nông thôn, đến tháng 6 năm 2016, toàn tỉnh có 09 xã đạt tiêu chí nông thôn mới.

          - Tăng trưởng công nghiệp ngày càng cao: Giai đoạn 1996-2000 chỉ đạt 14,5%/năm; 2001-2005 đạt 16,76%/năm thì giai đoạn 2005-2010 công nghiệp-xây dựng tăng trưởng bình quân 25,7% năm; trong đó, giá trị sản xuất công nghiệp đến 2010 tăng trên 6 lần so với năm 2005.  Giai đoạn 2010-2015, công nghiệp phát triển cả về quy mô và chất lượng, tốc độ tăng trưởng bình quân gần 16,7%/năm; một số ngành công nghiệp có lợi thế được chú trọng phát triển, tạo sản phẩm có sức tiêu thụ trên thị trường trong và ngoài nước[3]. Một số nghề thủ công truyền thống được khôi phục, phát triển.

          - Thương mại, dịch vụ có bước phát triển: giai đoạn 1996-2000 đạt 6,8%/năm; giai đoạn 2001-2005 đạt 11,18%/năm; giai đoạn 2006-2010 đạt 16,49%. Đặc biệt trong giai đoạn 2010-2015: Thương mại, dịch vụ phát triển nhanh, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tăng nhanh, bình quân đạt 29,18%/năm; mạng lưới phân phối hàng hóa đáp ứng kịp thời nhu cầu sản xuất, tiêu dùng của Nhân dân, góp phần tham gia bình ổn giá cả hàng hoá thiết yếu. Dịch vụ tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, công nghệ thông tin, tư vấn... có bước phát triển đáng kể. Một số khu, tuyến, điểm du lịch được đưa vào khai thác, thu hút lượng khách du lịch đến tỉnh bình quân tăng hằng năm lên 17,85%.

          - Ba vùng kinh tế động lực[4] với những đặc trưng riêng đã có những đóng góp đáng kể trong việc thúc đẩy kinh tế, xã hội của tỉnh phát triển và tác động lan tỏa đến các vùng khác. Việc đầu tư nâng cấp thành phố Kon Tum đạt 70% tiêu chuẩn của đô thị loại II (vùng cao, vùng sâu, biên giới), quy hoạch khu Trung tâm hành chính mới của tỉnh và xây dựng các khu đô thị mới[5] được triển khai tích cực; các khu, cụm công nghiệp được đầu tư, nâng cấp để thu hút đầu tư[6]. Thị trấn Plei Kần, huyện Ngọc Hồi đã được công nhận đô thị loại IV, hoạt động đầu tư, kinh doanh tại Khu kinh tế cửa khẩu quốc tế Bờ Y có chuyển biến tích cực; thị trấn huyện lỵ Kon Plông được xúc tiến thành lập, du khách đến Măng Đen ngày càng tăng, một số dự án nông nghiệp công nghệ cao đang được triển khai thực hiện.

          - Hệ thống kết cấu hạ tầng ngày càng hoàn thiện. Từ năm 1999, tỉnh đã phá được thế ngõ cụt về giao thông, tạo điều kiện để Kon Tum giao lưu thuận lợi với các tỉnh, các khu vực trong nước và với các nước trong khu vực. Các quốc lộ 24, 14C, đường Hồ Chí Minh đã đầu tư cơ bản hoàn chỉnh, đường tỉnh lộ được nâng cấp, hệ thống đường liên xã và giao thông nông thôn cơ bản lưu thông thuận lợi, thông suốt hai mùa; công tác tu bổ, sửa chữa các công trình thủy lợi được thực hiện thường xuyên, đảm bảo cấp nước và an toàn hồ chứa; điện lưới đã đến 98,66% thôn, tổ dân phố và trên 98,68% số hộ được sử dụng điện; trên 86% hộ được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh; hệ thống trường lớp, thiết bị dạy và học được chuẩn hóa, cơ bản đáp ứng yêu cầu; Bệnh viện Đa khoa tỉnh và các bệnh viện tuyến tỉnh được đầu tư mở rộng, trang thiết bị hiện đại, các trung tâm y tế huyện và y tế tuyến xã được quan tâm đầu tư đảm bảo yêu cầu khám chữa bệnh cho Nhân dân; hạ tầng công nghệ thông tin phát triển nhanh, mạng lưới thông tin phủ sóng rộng khắp; thiết chế văn hóa, công trình thể thao và các công trình phúc lợi xã hội được quan tâm đầu tư từ ngân sách và xã hội hóa đầu tư[7]. Kết cấu hạ tầng trung tâm các huyện, xã và cụm xã được đầu tư, mở rộng và ngày càng khang trang. Các công trình trọng điểm cơ bản hoàn thành, đảm bảo chất lượng.

          2. Về văn hoá, xã hội

          - Công tác xoá đói giảm nghèo được đẩy mạnh triển khai một cách đồng bộ và đạt được kết quả tương đối cao, góp phần ổn định cuộc sống của người nghèo trên địa bàn tỉnh. Khi mới thành lập lại tỉnh, tỷ lệ hộ đói, nghèo của toàn tỉnh là trên 65%, đến 2005 giảm xuống còn 9,23% (theo chuẩn nghèo năm 2005 là 38,63%). Tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh từ 33,36% cuối năm 2010 xuống 11,5% vào cuối năm 2015, bình quân mỗi năm giảm 4,37%; trong đó, tỷ lệ hộ nghèo là người dân tộc thiểu số/tổng số hộ dân tộc thiểu số giảm từ 56,5% (năm 2010) xuống còn 19,87% (vào cuối năm 2015). Đời sống người có công, người nghèo, các đối tượng chính sách xã hội ngày càng được cải thiện. Nhà ở, đất ở, đất sản xuất của Nhân dân phần lớn được đảm bảo.

          - Chất lượng giáo dục-đào tạo được nâng lên, nhất là ở vùng dân tộc thiểu số. Khắc phục tình trạng thiếu thầy, thiếu lớp, thiếu phòng học và có nhiều phòng học tạm bợ, tranh tre, nứa lá; số lượng cán bộ quản lý và giáo viên có trình độ chuyên môn đạt chuẩn còn quá thấp của những năm đầu mới thành lập lại, tỉnh đã từng bước thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ, từ tập trung mở rộng hệ thống trường, lớp đến nâng cao chất và lượng giáo viên ở các cấp học, ngành học. Năm 1991, tỷ lệ học sinh trong độ tuổi đến trường mới chỉ đạt 60% thì đến năm 2000, tỉnh đã được công nhận phổ cập giáo dục tiểu học và xoá mù chữ, hoàn thành phổ cập giáo dục trung học cơ sở vào năm 2010 và hoàn thành phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi vào năm 2015. Trong giai đoạn 2010-2015, công tác đào tạo nghề được triển khai tích cực, góp phần nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo chung từ 33% lên 42%; đã tích cực tạo việc làm cho lao động nông thôn và sinh viên dân tộc thiểu số sau khi tốt nghiệp giáo dục chuyên nghiệp (đại học, cao đẳng, trung cấp...).

          - Công tác dân số, kế hoạch hóa gia đình, chăm sóc, bảo vệ sức khỏe Nhân dân đạt nhiều kết quả. Các loại dịch bệnh nguy hiểm được phát hiện, khống chế kịp thời. Tuổi thọ trung bình được nâng lên[8]. Tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng năm 2010 là 28,3%, đến năm 2015 giảm còn 23,4%. Khi mới thành lập lại tỉnh, cơ sở vật chất của ngành y tế thiếu thốn nghiêm trọng; đội ngũ cán bộ y tế vừa thiếu, vừa yếu; trang thiết bị chuyên môn thiếu thốn, lạc hậu, nhiều xã “trắng” về y tế (không có trạm và cán bộ y tế),... Đến nay[9], mạng lưới y tế được xây dựng, củng cố và kiện toàn từ tỉnh đến cơ sở; bình quân có gần 10 bác sỹ và 0,6 dược sỹ đại học/ vạn dân; gần 100% trạm y tế xã có bác sỹ; tiêm chủng mở rộng thường xuyên hàng tháng tại tất cả các xã, phường, thị trấn trên toàn tỉnh với tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ đạt 96,6%; tỷ lệ bao phủ BHYT đạt 85%.

          - Hoạt động văn hóa, nghệ thuật ngày càng đi vào chiều sâu, chất lượng được nâng lên; ý thức thực hiện nếp sống văn minh của người dân có chuyển biến tích cực. Công tác quản lý, sưu tầm, bảo tồn, phát huy các giá trị di sản văn hóa, truyền thống quý báu của dân tộc thiểu số được tăng cường, góp phần nâng cao đời sống tinh thần cho người dân và quảng bá hình ảnh địa phương. Phong trào thể dục thể thao quần chúng được duy trì và có tiến bộ. Thiết chế văn hóa từ tỉnh đến cơ sở được đầu tư xây dựng, cơ bản đáp ứng nhu cầu của Nhân dân. Phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa" phát triển sâu rộng; số thôn, tổ dân phố, khu dân cư và hộ gia đình được công nhận đạt tiêu chuẩn văn hóa ngày càng tăng. Tính đến tháng 6 năm 2016, toàn tỉnh có 550/868 khu dân cư văn hóa; 81.541/118.732 hộ gia đình được công nhận danh hiệu Gia đình văn hóa. 

          3. Về lĩnh vực quốc phòng-an ninh

          Trong 25 năm qua, mặc dù có những lúc tình hình thế giới, trong nước và khu vực diễn biến phức tạp, nhưng tỉnh Kon Tum vẫn bảo đảm ổn định về an ninh chính trị. Nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân và thế trận biên phòng toàn dân được củng cố, tăng cường; các tiềm lực trong khu vực phòng thủ tỉnh được đầu tư xây dựng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc được triển khai có hiệu quả, góp phần giữ vững ổn định chính trị, không để xảy ra biểu tình, bạo loạn. Diễn tập khu vực phòng thủ, diễn tập chiến đấu trị an được triển khai đúng kế hoạch, đạt chất lượng. Chất lượng tổng hợp và khả năng sẵn sàng chiến đấu của lực lượng vũ trang tỉnh ngày càng được nâng cao, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Các chính sách đối với lực lượng vũ trang và hậu phương quân đội được triển khai thực hiện có hiệu quả.

          An ninh chính trị nội bộ, an ninh biên giới, an ninh kinh tế, an ninh thông tin, an ninh trong vùng tôn giáo, dân tộc, nông thôn và trật tự an toàn xã hội được bảo đảm. Đã chủ động phòng ngừa, đấu tranh, không để tái nhen nhóm tổ chức phản động FULRO, Tin lành Đê Ga; đấu tranh triệt để xóa bỏ tà đạo Hà Mòn đạt kết quả. Các loại tội phạm, đặc biệt là tội phạm nguy hiểm, tội phạm kinh tế, môi trường, ma tuý được điều tra, xử lý kịp thời.

          Hoạt động đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước, đối ngoại Nhân dân được tăng cường. Công tác đối ngoại, hợp tác, nhất là với các tỉnh giáp biên của nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào và Vương quốc Campuchia được tích cực đẩy mạnh, tập trung vào các lĩnh vực bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới; phòng, chống tội phạm; phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội; đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; tìm kiếm, quy tập, cất bốc hài cốt liệt sỹ…, đã thiết lập quan hệ với một số tỉnh Đông Bắc Thái Lan trên một số lĩnh vực giáo dục, văn hóa, du lịch…. Công tác phân giới, cắm mốc trên tuyến biên giới với Campuchia, tăng dày, tôn tạo hệ thống mốc quốc giới trên tuyến biên giới với Lào cơ bản hoàn thành.

          4. Về xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị

          Trong 25 năm qua, công tác xây dựng Đảng luôn được coi là nhiệm vụ then chốt và thường xuyên của Đảng bộ. Công tác giáo dục chính trị tư tưởng được chú trọng. Việc tổ chức phổ biến, quán triệt và triển khai, sơ kết, tổng kết các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, Nhà nước ngày càng được đổi mới và hiệu quả hơn; đã kịp thời nắm bắt, phản ánh và định hướng dư luận xã hội. Công tác đấu tranh chống âm mưu, hoạt động "diễn biến hoà bình" của các thế lực thù địch được chủ động triển khai và đạt kết quả tích cực, nhất là trên lĩnh vực tư tưởng văn hoá. Tinh thần cảnh giác cách mạng của cán bộ, đảng viên và nhân dân trước âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch; ý thức ngăn ngừa biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ được nâng lên.

          Việc kiểm điểm tự phê bình và phê bình theo Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, gắn với đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh có chuyển biến và mang lại hiệu quả thiết thực. Đã kịp thời giải quyết những vấn đề bức xúc, nổi cộm trên địa bàn. Cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp thực hiện tốt việc đăng ký, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, gắn với trách nhiệm nêu gương theo quy định, có lối sống trong sạch, lành mạnh, đề cao trách nhiệm và thực hiện tốt nhiệm vụ được giao; một số mô hình điển hình tiên tiến được biểu dương và nhân rộng.

          Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên được nâng lên; chất lượng sinh hoạt chi bộ ngày càng đi vào thực chất. Tổ chức bộ máy tiếp tục được củng cố, kiện toàn, phát huy được vai trò và đáp ứng nhiệm vụ được giao. Công tác phát triển đảng, nhất là ở những nơi khó khăn tiếp tục được chú trọng. Số lượng, chất lượng đảng viên mới kết nạp hằng năm đều tăng, nhất là đảng viên trẻ, nữ, dân tộc thiểu số và đảng viên có tôn giáo.

          Khi mới thành lập lại tỉnh, đội ngũ cán bộ còn rất thiếu và yếu. Đến nay, đội ngũ cán bộ các cấp cơ bản đảm bảo cơ cấu, chất lượng, trưởng thành về mọi mặt và đáp ứng được yêu cầu trong tình hình mới. Công tác cán bộ được thực hiện đúng quy trình, quy định. Chất lượng quy hoạch cán bộ các cấp ngày càng được nâng lên, cơ bản khắc phục tình trạng khép kín. Công tác đào tạo, bồi dưỡng, điều động, luân chuyển cán bộ được thực hiện quyết liệt, đã góp phần khắc phục tình trạng trì trệ, cục bộ ở một số địa phương, đơn vị. Đa số cán bộ luân chuyển có sự trưởng thành, một số đồng chí phát huy tốt vai trò, trách nhiệm ở cương vị công tác mới. Đội ngũ cán bộ lãnh đạo người dân tộc thiểu số, cán bộ trẻ, cán bộ nữ tăng về số lượng, nâng dần về chất lượng và hiệu quả công tác, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu nhiệm vụ, khắc phục được tình trạng hẫng hụt ở nhiều ngành, địa phương. Đội ngũ cán bộ cấp xã ngày được chuẩn hóa. Công tác bảo vệ chính trị nội bộ được chú trọng, nhất là vấn đề chính trị hiện nay.

          Công tác kiểm tra, giám sát của Đảng tiếp tục được tăng cường. Đã chủ động xây dựng chương trình kiểm tra, giám sát với những nội dung trọng tâm, trọng điểm, tập trung vào những vụ việc nổi cộm, dư luận quan tâm; qua kiểm tra, giám sát đã phát huy ưu điểm, khắc phục các khuyết điểm, ngăn ngừa sai phạm, đề xuất sửa đổi, bổ sung những vấn đề còn bất cập, xử lý kỷ luật nghiêm đối với tổ chức đảng và đảng viên vi phạm, góp phần giữ vững kỷ cương, kỷ luật trong Đảng. Giải quyết kịp thời đơn thư tố cáo, hạn chế tình trạng khiếu nại, tố cáo vượt cấp kéo dài.

          Công tác dân vận của hệ thống chính trị có nhiều đổi mới, được triển khai thực hiện có hiệu quả với nhiều hình thức, lực lượng phù hợp, góp phần trong việc giải quyết những vấn đề phát sinh ở cơ sở. Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị-xã hội từ tỉnh đến cơ sở tiếp tục được củng cố, kiện toàn, đổi mới nội dung, phương thức, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động và tập trung nhiều hơn về cơ sở. Các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư", "Ngày vì người nghèo", ngày hội đại đoàn kết toàn dân, phong trào đền ơn đáp nghĩa, ủng hộ đồng bào lũ lụt, xây nhà "Đại đoàn kết", "Tết cho người nghèo", chăm lo các gia đình chính sách, các đối tượng tàn tật, trẻ mồ côi… ngày càng phát huy hiệu quả. Vai trò giám sát, phản biện xã hội đã có sự đổi mới về hình thức và nội dung; hương ước, quy ước ở các thôn, tổ dân phố được thực hiện, qua đó đã phát huy tốt quyền làm chủ của Nhân dân, góp phần củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết các dân tộc trên địa bàn tỉnh.

          Hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hội đồng nhân dân các cấp được nâng lên rõ rệt. Các kỳ họp hội đông nhân dân ngày càng được nâng cao về chất lượng, dân chủ, công khai hơn, từ việc xây dựng nội dung chương trình họp, chất vấn, trả lời chất vấn, đến việc quyết định phân bổ ngân sách và quyết định những vấn đề lớn của địa phương. Công tác giám sát, tiếp xúc cử tri đã có sự đổi mới theo hướng tăng cường phối hợp, thiết thực, hiệu quả.

          Năng lực quản lý, điều hành, tổ chức thực hiện của chính quyền và các cơ quan quản lý Nhà nước tiếp tục được nâng lên. Sự phân cấp, phân quyền ngày càng rõ ràng giữa chính quyền các cấp, các ngành và đã đảm bảo việc quản lý nhà nước trên các lĩnh vực được thống nhất, chặt chẽ và có hiệu quả hơn trước. Nhiều chủ trương, nghị quyết của Đảng, Nhà nước và của Tỉnh uỷ được chính quyền cụ thể hoá thành chương trình, kế hoạch, đề án phù hợp và tổ chức thực hiện thống nhất, đồng bộ, sát cơ sở và có hiệu quả rõ rệt trong thực tiễn. Đội ngũ cán bộ chính quyền các cấp được tăng cường, ngày càng nâng cao trình độ nghiệp vụ, năng lực thực tiễn, ý thức trách nhiệm.

          Cải cách hành chính có nhiều chuyển biến tích cực. Việc triển khai thực hiện chủ trương cải cách hành chính được chú trọng và triển khai tương đối đồng bộ. Công tác cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế “một cửa” đã được thực hiện ở hầu hết các sở, ngành và huyện, thành phố và xã, phường, thị trấn. Qua đó, góp phần giảm bớt thủ tục hành chính phiền hà, giải quyết kịp thời hơn các yêu cầu, quyền lợi của tổ chức và công dân; tình trạng quan liêu, sách nhiễu trong một bộ phận cán bộ, công chức dần dần được khắc phục.

          II. Những định hướng lớn của tỉnh trong thời gian tới

          Trong những năm tới, tỉnh Kon Tum có những thuận lợi to lớn mà Đảng bộ và Nhân dân các dân tộc trong tỉnh cần khai thác, phát huy để phục vụ công cuộc xây dựng và phát triển địa phương. Nằm ở ngã ba Đông Dương, là trung tâm của vùng Tam giác phát triển; có lợi thế về kinh tế cửa khẩu; có tiềm năng, thế mạnh về tài nguyên, cảnh quan thiên nhiên và bản sắc văn hóa các dân tộc... nên có điều kiện cho phát triển kinh tế rừng, cây công nghiệp, chăn nuôi đại gia súc; công nghiệp chế biến, thương mại-dịch vụ và du lịch. Quốc phòng, an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội cơ bản ổn định. Đảng, Nhà nước có nhiều chính sách đặc thù đối với miền núi, vùng cao nói chung và khu vực Tây Nguyên nói riêng đang được triển khai thực hiện có hiệu quả. Quan hệ hợp tác phát triển giữa Kon Tum với các tỉnh, thành phố trong khu vực và cả nước đang mở ra nhiều triển vọng. Nhiều công trình, dự án lớn, trọng điểm trên địa bàn được đầu tư, triển khai thực hiện, nhất là nhiều tuyến đường nối với các tỉnh duyên hải miền Trung và vùng Tam giác phát triển sẽ được đầu tư nâng cấp; Nhân dân các dân tộc trong tỉnh có truyền thống đoàn kết, luôn tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, quản lý điều hành của Nhà nước, tin tưởng vào thắng lợi của sự nghiệp đổi mới đất nước. Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ được nâng lên, sự đoàn kết thống nhất trong Đảng bộ không ngừng được củng cố; đội ngũ cán bộ, đảng viên cơ bản đảm bảo về số lượng, phẩm chất, đạo đức và năng lực thực tiễn, năng động trong tổ chức thực hiện, đủ khả năng đảm nhận và hoàn thành tốt nhiệm vụ trong tình hình mới.

          Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi to lớn, tỉnh ta cũng đứng trước những khó khăn, bất cập như: Kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội còn nhiều yếu kém. Nhu cầu về vốn đầu tư lớn, nhưng khả năng đáp ứng rất hạn chế. Quy mô kinh tế còn nhỏ, công nghệ sản xuất lạc hậu, năng lực cạnh tranh thấp. Dân số ít và sống phân tán; trình độ dân trí không đồng đều; chất lượng nguồn nhân lực thấp; lao động trong nông nghiệp chiếm tỷ lệ cao; vị trí địa lý đặc thù tạo ra thuận lợi, song cũng đặt ra những khó khăn giữa phát triển kinh tế và bảo đảm quốc phòng, an ninh. Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu ngày càng rõ nét. Năng lực lãnh đạo, quản lý điều hành về kinh tế, xã hội của các cấp, các ngành còn có mặt hạn chế; chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở ở một số nơi chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Cải cách hành chính, nhất là thủ tục hành chính chưa thật mạnh mẽ, triệt để. Một bộ phận cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng về đạo đức, lối sống, yếu kém về trình độ, năng lực, uy tín thấp. Tình hình ngoại biên phức tạp; các thế lực thù địch, phản động tiếp tục các hoạt động kích động, chia rẽ khối đoàn kết các dân tộc, lôi kéo vượt biên trái phép.

          Tình hình thế giới, trong nước, trong tỉnh tạo ra cả thuận lợi, thời cơ và khó khăn, thách thức đan xen; đặt ra nhiều yêu cầu mới, phức tạp hơn đối với việc ổn định và phát triển của tỉnh trong  những năm tới.

          Phát huy những lợi thế, thuận lợi, khắc phục, đẩy lùi những khó khăn trong thời gian tới, Đại hội Đảng bộ tỉnh Kon Tum lần thứ XV đã chỉ ra Mục tiêu tổng quát trong nhiệm kỳ 2015-2020 đó là: "Tiếp tục xây dựng Đảng bộ trong sạch vững mạnh; nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền; củng cố và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết các dân tộc; quản lý, khai thác sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, tiềm năng, lợi thế của tỉnh để đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, gắn với xây dựng nông thôn mới; duy trì tăng trưởng kinh tế hợp lý, chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả; nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân; giữ vững ổn định chính trị, quốc phòng, an ninh trong mọi tình huống. Phấn đấu xây dựng tỉnh Kon Tum ổn định và phát triển bền vững".

          Đại hội đề ra một số chỉ tiêu chủ yếu sau:

          Tăng trưởng kinh tế bình quân giai đoạn 2015-2020 trên 9%/năm. Đến năm 2020, tỷ trọng các ngành trong trong cơ cấu kinh tế[10]: nông-lâm-thuỷ sản là 26-27%, công nghiệp-xây dựng là 31-32%, thương mại-dịch vụ là 35-36%; thu nhập bình quân đầu người đạt trên 2.500 USD; thu ngân sách nhà nước tại địa bàn trên 3.500 tỷ đồng.

          Đến năm 2020, dân số khoảng 580 nghìn người; trên 52% lao động qua đào tạo; có 80% người trong độ tuổi đạt trình độ giáo dục trung học phổ thông và tương đương; 100% xã đạt bộ tiêu chí quốc gia về y tế xã; 50% xã, phường, thị trấn có nhà văn hóa; ít nhất 25 xã đạt chuẩn nông thôn mới. Tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân khoảng 3-4%/năm.

          Đến năm 2020, trên 80% các cơ sở sản xuất kinh doanh đạt tiêu chuẩn về môi trường; độ che phủ rừng đạt trên 63,75%.

          Đến năm 2020, kết nạp mới trên 5.000 đảng viên; 100% thôn, tổ dân phố có tổ chức đảng; trên 75% quần chúng được tập hợp vào các tổ chức chính trị-xã hội.

          Để thực hiện mục tiêu đó, trong nhiệm kỳ 2015-2020, Đảng bộ tỉnh tập trung lãnh đạo và tổ chức thực hiện thắng lợi toàn diện các nhiệm vụ trọng tâm sau:

          - Tập trung huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực để đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội theo hướng đồng bộ, hiện đại.

          - Thực hiện tái cơ cấu đồng bộ nền kinh tế theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh gắn với đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa tỉnh nhà.

          - Tiếp tục nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát triển văn hóa, xã hội, nâng cao đời sống Nhân dân.

          - Bảo đảm quốc phòng, an ninh; giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội; nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại.

          - Tiếp tục xây dựng Đảng bộ trong sạch vững mạnh; nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ.

          - Nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền các cấp.

          - Đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị-xã hội; tăng cường công tác giám sát, phản biện xã hội và tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền; tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động hướng về cơ sở.

          Phát huy những thành tựu trong chặng đường đã qua, với khí thế và quyết tâm chính trị cao, trong nhiệm kỳ Đại hội Đảng bộ tỉnh Kon Tum lần thứ XV (2015-2020), toàn Đảng bộ, quân và dân các dân tộc trong tỉnh đoàn kết một lòng, đồng tâm hiệp lực, tận dụng  thời cơ, thuận lợi, vượt qua khó khăn, thử thách, chủ động, sáng tạo, ra sức thi đua thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XV Đảng bộ tỉnh đã đề ra. Quyết tâm “Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ; phát huy sức mạnh đoàn kết các dân tộc; khai thác và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực; xây dựng tỉnh Kon Tum ổn định, phát triển bền vững".

____________

Đăng bởi : Bùi Thủ Ngày đăng : 16/08/2016 Lượt xem : 658
Quay Về

THÔNG BÁO
THÔNG TIN CHUNG
Hướng dẫn DVC
Dịch vụ hành chính công- Bộ Công Thương
Cam nang xang E5
VBPL_KonTum
Tạp chí CS
Nông thôn mới
Xang dau
ket noi DN